06 Lợi ích mà NLĐ được hưởng khi tăng lương tối thiểu vùng

Như chúng ta đã biết, sau 02 năm không tăng lương cùng với dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống sinh hoạt, nguồn thu nhập của một số bộ phận NLĐ. Theo Nghị định số 38/2022/NĐ-CP thì đến ngày 01/7/2022 sẽ là thời điểm bắt đầu áp dụng tăng lương tối thiểu vùng. Thấy rằng, sự điều tiết hài hòa của Chính phủ trong việc vừa hỗ trợ NLĐ, vừa tạo cơ hội cho các doanh nghiệp chuẩn bị, có kế hoạch trong sản xuất kinh doanh. Và quan trọng hơn là hỗ trợ giúp cho NLĐ vượt qua khó khăn sau đại dịch, đồng thời cũng chính là động lực để tăng năng suất lao động.

Theo đó, khi mức lương tối thiểu vùng được điều chỉnh tăng lên thì sẽ kéo theo một loạt các quy định có liên quan đến mức lương tối thiểu vùng. Cụ thể, NLĐ sẽ được hưởng những lợi ích nào từ việc tăng trên?

Những lợi ích khi tăng lương tối thiểu vùng!
Những lợi ích khi tăng lương tối thiểu vùng!

THỨ NHẤT – TĂNG MỨC ĐÓNG BHXH

Căn cứ Điều 89 Luật BHXH năm 2014; điểm 2.6 Khoản 2 Điều 6 Văn bản hợp nhất 2089/VBHN-BHXH (Quyết định số 595/QĐ-BHXH) thì mức đóng BHXH hàng tháng sẽ phụ thuộc phần lớn vào mức lương tháng đóng BHXH. Cụ thể như sau:

“2.6. Mức tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc quy định tại Khoản này không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng tại thời điểm đóng đối với NLĐ làm công việc hoặc chức danh giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường.

a) NLĐ làm công việc hoặc chức danh đòi hỏi lao động qua đào tạo, học nghề (kể cả lao động do doanh nghiệp tự dạy nghề) phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng;

b) NLĐ làm công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm phải cao hơn ít nhất 5%; công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương của công việc hoặc chức danh có độ phức tạp tương đương, làm việc trong điều kiện lao động bình thường”.

Dựa theo trên thì mức lương tối thiểu vùng tăng sẽ là cơ sở buộc các doanh nghiệp đang đóng BHXH cho NLĐ dưới mức lương tối thiểu vùng phải tăng mức đóng, ít nhất bằng mức lương tối thiểu vùng.

THỨ HAI – TĂNG TIỀN LƯƠNG NGỪNG VIỆC KHI NLĐ NGỪNG VIỆC

Căn cứ Điều 99 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định trường hợp phải ngừng việc, NLĐ được trả lương như sau:

“1. Nếu do lỗi của NSDLĐ thì NLĐ được trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động;

2. Nếu do lỗi của NLĐ thì người đó không được trả lương; những NLĐ khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc thì được trả lương theo mức do hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu;

3. Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của NSDLĐ hoặc do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế thì hai bên thỏa thuận về tiền lương ngừng việc như sau:

a) Trường hợp ngừng việc từ 14 ngày làm việc trở xuống thì tiền lương ngừng việc được thỏa thuận không thấp hơn mức lương tối thiểu;

b) Trường hợp phải ngừng việc trên 14 ngày làm việc thì tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận nhưng phải bảo đảm tiền lương ngừng việc trong 14 ngày đầu tiên không thấp hơn mức lương tối thiểu”.

Vì thế, khi mức lương tối thiểu vùng tăng thì mức lương ngừng việc của NLĐ cũng tăng theo tương ứng như quy định trên.

THỨ BA – TĂNG MỨC ĐÓNG BẢO HIỂM Y TẾ

Căn cứ Điều 13 Luật BHYT năm 2014 Khoản 1 Điều 18 Văn bản hợp nhất 2089/VBHN-BHXH (Quyết định số 595/QĐ-BHXH) thì:

Mức đóng bảo hiểm y tế hàng tháng bằng 4,5% mức tiền lương tháng. Trong đó, NSDLĐ đóng 3%; NLĐ đóng 1,5%. Tiền lương tháng đóng BHYT là tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc quy định tại Điều 6 (Mục Thứ nhất).

Do vậy, mức đóng BHYT sẽ tăng tương ứng với mức tăng của mức lương tháng đóng BHXH.

THỨ TƯ – TĂNG MỨC ĐÓNG BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

Căn cứ Điều 58 Luật Việc làm năm 2013; Khoản 2 Điều 15 Văn bản hợp nhất 2089/VBHN-BHXH (Quyết định số 595/QĐ-BHXH) thì NLĐ đóng BHTN theo chế độ tiền lương do đơn vị quyết định thì tiền lương tháng đóng BHTN là tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc quy định tại Khoản 2 Điều 6 (Mục thứ nhất). Trường hợp mức tiền lương tháng của NLĐ cao hơn 20 tháng lương tối thiểu vùng thì mức tiền lương tháng đóng BHTN bằng 20 tháng lương tối thiểu vùng.

Như vậy, mức đóng BHTN cũng sẽ tăng khi tiền lương vùng tối thiểu tăng.

THỨ NĂM – TĂNG MỨC HƯỞNG TRỢ CẤP THẤT NGHIỆP TỐI ĐA

Căn cứ Khoản 1 Điều 50 Luật Việc làm năm 2013 thì mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với NLĐ đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

Theo đó, khi mức lương tối thiểu vùng tăng thì mức hưởng 05 lần mức lương tối thiểu vùng khi nhận trợ cấp thất nghiệp cũng tăng theo như sau: Vùng I: 23.400.000 đồng; Vùng II: 20.800.000 đồng; Vùng III: 18.200.000 đồng; Vùng IV: 16.250.000 đồng.

THỨ SÁU – TĂNG TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU KHI CHUYỂN CÔNG VIỆC

Căn cứ Khoản 3 Điều 29 Bộ luật Lao động năm 2019 thì NLĐ chuyển sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động được trả lương theo công việc mới. Nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương của công việc cũ thì được giữ nguyên tiền lương của công việc cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% tiền lương của công việc cũ nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu.

Cho nên, nếu lương tối thiểu vùng tăng, tiền lương tối thiểu trả cho NLĐ bị điều chuyển công việc cũng phải điều chỉnh tăng thêm.

Ngoài ra, trong Nghị định 38/2022/NĐ-CP quy định về mức lương tối thiểu vùng lần này thay thế Nghị định 90/2019/NĐ-CP trước đó thì đã có quy định thêm về việc áp dụng mức lương tối thiểu theo giờ. Thực chất, về quy định này đã có sẵn trong Bộ luật Lao động, nhưng vì nhiều lý do mà bây giờ mới được áp dụng. Lương tối thiểu theo giờ áp dụng là để bảo vệ quyền lợi cho mọi lực lượng lao động, đặc biệt là lao động trong khu vực phi chính thức, không có quan hệ lao động, dễ bị người sử dụng lao động hoặc chủ hộ gia đình trả lương thấp.

Chia sẽ bài viết:

Ý kiến của bạn